Make your own free website on Tripod.com
  PhầnNhất-I

11/09/11

Home
Lời Nói Đầu
SựNghiệp CụTổ VũHồn
English
Thăm Gốc Tổ Mộ-Trạch
Nhất Gia
PhầnNhất-I
PhầnNhất-II
PhầnNhất-III
PhầnNhất-IV
PhầnNhất-V
PhầnNhất-VI
PhầnNhất-VII
Trích VũCaoĐàm
VũVănLư
VũTôngPhan
Tin Tổ-Đường Phương Nam
Làng TiếnSĩ
Họ Vũ trước CN
Đặng Vũ Phả Kư
Kịch Vũ Như Tô
ĐáiNhân-NinhB́nh
ThảoLuận- VũHồn

 

Phần Thứ Nhất

Sự H́nh Thành Họ Vũ ở Việt-Nam

(Lược Sử Họ Vũ Việt-Nam

[lưu-hành trong nội-bộ họ Vũ - Vơ]

Vũ Mạnh Hà - Vũ Thuư)


Phần Thứ Nhất - I

I. Sơ Lược Về Các Ḍng Họ ở Việt Nam

1.1. Thời-Gian xuất-hiện

Theo truyền thuyết, thuỷ tổ dân tộc Việt Nam là Kinh Dương Vương, hiện có mộ tại làng An Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc (?).

Kinh Dương Vương là ḍng giống Lạc Việt và là vua nước Việt vào quăng năm 2879 trước Công nguyên (TCN).

Sau đó Kinh Dương Vương nhường ngôi cho con là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, và bà sinh ra 100 trứng, nở ra 100 con; 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha về biển. Người con trưởng, trong số các con theo mẹ lên núi (nay là núi Phong Sơn, thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phúc), được tôn làm Vua gọi là Hùng Vương.

Các vua Hùng truyền được đến đời thứ 18, gần 2621 năm (2879 - 258 TCN). Theo dă sử ở đền Hùng, có vua Hùng trị v́ trên 300 năm, và các vua khác trung b́nh đều trên 100 năm (1) . Như vậy, nếu xác định các vua Hùng thuộc ḍng họ Hùng đầu tiên ở nước Việt Nam, th́ các ḍng ho. ở Việt Nam đă xuất hiện từ trên bốn ngàn năm - tương dương với sự xuất hiện các ḍng họ ở Trung Quốc. Việc đặt tên kèm theo bắt đầu có từ đời vua Phục Hy (2852 TCN). Vua Phục Hy đă quy định mọi người Trung Quốc đều phải có gia-tính, và cấm lấy vợ, lấy chồng trong những người cùng gia-tính có quan hệ huyết thống trực hệ trong 3 đời.

Đến đời Triệu Dương Vương (112-111) bị vua Hán Vũ Đế nhà Hán đem quân xâm lược, đổi nước Nam Việt thành quận Giao Chỉ và bắt đầu 1000 năm bắc thuộc lần thứ nhất.

Như vậy, có thể nói từ trước Công Nguyên ở Việt Nam đă có 3 ḍng họ: Hùng, Thục, Triệu, trong đó họ Triệu gốc ở đất Nam Hải - Quảng Đông.

Tuy nhiên, như chúng ta đă biết, ở thời kỳ này kinh tế Việt Nam thuộc vào các thời kỳ đồ đá - đồ đồng. Chế độ quản lư xă hội là chế độ công xă nguyên thủy, theo chế độ Mẫu Hệ là chính. Ngay các vua Hùng, 50- con theo mẹ lên núi, cũng đă nói lên đ́ều đó. Người đàn ông không có quyền trong xă hội, chỉ có người mẹ mới có quyền; thế th́ tại sao lấy họ bố để thừa kế? Điều này trong sử sách của ta hầu như chưa được quan tâm, và cũng chưa được giải đáp.

Tuy nhiên, theo dă sử chúng ta cũng biết được một điều: Vào những năm 40-43 sau Công Nguyên, nghĩa là vào những năm đầu tiên của thời kỳ Bắc thuộc, đất nước Việt Nam có cuộc khởi nghĩa đầu tiên chống quân Hán Trung Quốc.

Chúng ta chưa bao giờ biết người cha thân sinh của Hai Bà Trưng là ai (?). Chúng ta chỉ biết Hai bà Trưng sinh ra ở huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, gia đ́nh có nghề chăn tằm. Nghề chăn tằm gọi kén chắc là kén "chắc", kén mỏng là kén nhị. Tên Hai Bà Trưng - Trắc và Nhị - từ đó mà ra. Chúng ta không xác định được phụ thân của Hai Bà Trưng; do đó, không xác định được đầy đủ về ḍng họ Trưng của Hai Bà. Rất tiếc đến nay trong thống kê các ḍng họ ở Việt Nam không có ḍng họ Trưng.

Ngay cả đến Thi Sách (chồng của Bà Trưng Trắc), sau khi bị Tô Định giết, ḍng họ Thi hiện nay cũng không có trong ḍng họ Việt Nam.

Hơn 200 năm sau (khoảng 248 SCN) Bà Triệu lại cầm đầu cuôc khởi nghĩa thứ hai chống quân Ngô- Trung Quốc. Theo dă sủ, chúng ta được biết Bà Triệu quê tại tỉnh Thanh Hóa. Sau này lịch sử gọi bà là Triệu Thị Trinh hoặc Triệu Trinh Nương.

Chúng ta không biết vị thân sinh ra Bà Triệu là ai. Trong lịch sử chỉ nói đến tên người anh là Triệu Quốc Đạt. Phải chăng tên Triệu Quốc Đạt chỉ là tên các nhà viết sử sau này đặt ra cho đủ họ và tên?

Như vậy có thể nói ở thời hai Bà Trưng, Bà Triệu (40-248 SCN ), đất nước Việt Nam vẫn ở thời kỳ mẫu hệ. Trong toàn xă hội, phụ nữ quyết đinh là chính. V́ vậy, việc ḍng họ tồn tại theo khả năng di truyền của người cha là việc cần xem xét. Khó có thể tồn tại trong những điều kiện như vậy. Ngay cả đến Mai Thúc Loan (Mai Thúc Đế) các sử sách chỉ cho biết mẹ của Mai nhà nghèo, phải đi kiếm củi nuôi con, và cũng chỉ biết là người làng Mai, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Sau thời kỳ Bà Triệu 300 năm, đất nước ta vẫn ở trong t́nh trạng Bắc thuộc, thời kỳ các nhà Ngô, nhà Tấn và Đông Tấn, rồi đến các nhà Lương, Trần kế nghiệp cai quản.

Đến thời kỳ khởi nghĩa thứ ba, lập nước Vạn Xuân của nhà Tiền Lư (544-602) do Ông Lư Bôn (Lư Bí) sáng lập. Có lẽ đến nhà Tiền Lư th́ các ḍng họ Việt Nam bắt đầu xuất hiện. V́ từ thời kỳ Lư Bí, sinh ngày 12 tháng 9 năm Qúy Mùi (17/10/503), đă ghi rơ họ và tên trong gia đ́nh: Bố là Lư Toàn, Trưỏng bộ lạc; mẹ là Lê Thị Oánh, người Ái Châu (Thanh Hóa); và c̣n đượcbiết Lư Toàn người gốc phương Nam Trung Quốc.

Trước thời kỳ Hai Bà Trưng, bà Triệu, xă hội Việt Nam c̣n ở thời kỳ công xă nguỳên thủy, thời kỳ mẫu hệ, con đẻ ra phụ thuộc vào mẹ là chính. Tơi thời kỳ đó, văn hóa Việt Nam chưa phát triển. Chúng ta chưa có chữ viết; nếu có th́ chữ viết cổ của Việt Nam cũng không tồn tại. Do đó, sẽ không có cơ sở khoa học để xác định ḍng họ được lưu truyền như thế nào !

Mặt khác chúng ta cũng biết rằng, sống trên đất nước Việt Nam, ngoài người Kinh c̣n có trên 50 dân tộc anh em. Trong những dân tộc thiểu số này, người Mường là một trong những dân tộc Việt cổ nhất và gần người Kinh nhất. Trước Cách Mạng Tháng Tám, trừ tầng lớp qúy tộc Lang, Đạo của người Mường có tên ḍng họ riêng, c̣n đại bộ phận người Mường đều chỉ có chung một họ, là họ Bùi. Mặc dầu những người này sống chung trong một thôn, bản, nhưng không có quan hệ huyết thống. Ngoài ra, dân tộc Vân Kiều ở Quảng Trị là một thí dụ điển h́nh về dân tộc Việt Nam không có họ. Trong kháng chiến chống Pháp (sau năm 1945) người Vân Kiều lấy họ Hồ (họ của Chủ Tịch Hồ Chí Minh) là họ chung cho dân tộc ḿnh, để nêu lên ư chí quyết tâm của dân tộc Vân Kiều quyết theo Cụ Hồ đi đánh giặc Pháp.

Như vậy có thể nói, thời kỳ xuất hiện các ḍng họ ở Việt Nam hiện nay chưa được xác định. Đây chính là một vấn đề tồn tại trong việc nghiên cứu lịch sử các ḍng họ ở Việt Nam.

1.2 Xuất Xứ Các Ḍng Họ ở Việt Nam

Căn cứ vào tài liệu cổ sử, khảo cổ, tân nhân văn Minh Triết, và theo các tư liệu dă sử ở Việt Nam và nước ngoài, th́ từ khi chưa có nước Trung Hoa, dân tộc Văn Lang do Họ Hồng Bàng lănh đạo đă là môt dân tộc tiến bộ rất sớm. Trong Hồng Bàng Kỷ suốt Miền Đông và Miền Nam nước Tàu, gồm cả lưu vực Sông Dương Tử xuống Hà Tĩnh bây giờ, đều do Văn Lang làm chủ. Nước Văn Lang gồm nhiều thị tộc lớn có tên chung là Bách Việt. Tỉnh Triết Giang - sinh quán của Ông Hồ Hưng Dật, được coi là Thủy Tổ họ Hồ ở Việt Nam - là trung tâm dân Việt trong Thiên Niên Kỷ I trước Công Nguyên, và kinh đô nước Văn Lang cũng ở đó (Thiệu Hưng và Cối Kê). Cho đến ngày nay vẫn c̣n được xem như là một tỉnh nhỏ nhất nhưng dân trí th́ lại tiến bộ nhất nước Tàu.

Năm 496 trước Công Nguyên, Hùng Vương Thứ 6 mà người Tàu gọi là Câu Tiễn, chiếm nước Ngô th́ nước Việt trở thành bá chủ từ Sơn Đông xuống Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây gồm cả Việt Thường (2), giáp Tứ Xuyên bây giờ. Con trưởng Câu Tiễn được đặt làm vua Lạc Việt ( từ Quảng Tây, Vân nam, xuống Trung Việt), lấy niên hiệu là Hùng Vương Thứ 7. Năm 333 TCN, nước Việt bị nước Sở đánh bại, dân Việt phải rút lui về Phương Nam và chia thành bốn phái chính:

Đông Việt (Đông Âu, Việt Đông Hải) ở Triết Giang, sinh quán của Hồ Hưng Dật.

Mân Việt ở vùng Phúc Kiến.

Nam Việt ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây.

Lạc Việt cũng gọi là Tây Âu Lạc (Tây Âu và Lạc Việt hợp lại) ở Vân Nam, Quảng Tây, Bắc

Việt và Trung Việt bây giờ.

Suốt 12 thế kỷ, trải qua cả thời Tần, Hán, v.v., các chi phái trở thành châu, quận của Đế Quốc Trung Hoa, danh hiệu đổi. Tây Âu Lạc bị Nam Chiếu chiếm vào thế kỷ thứ 9 trong thời Cao Biền, và trong thời Ngũ Quí Sử ghi nhận:

Đông Việt thành Ngôn Việt ở Triết Giang, sinh quán của Hồ Hưng Dật.

Mân Việt vẫn là Mân Việt ở vùng Phúc Kiến.

Nam Việt, Lưu Cung đổi ra Đại Việt, khi xưng đế lại đổi ra Nam Hán.

Lạc Việt dă thành Giao Châu và kế đó là Đại Cồ Việt tự chủ.

Chính vào thời Ngũ Quí này, Ông Hồ Hưng Dật từ Ngô Việt (Triết Giang) xuống Giao Châu (Nam Việt) vào khoảng cuối Hậu Đường (935-937) trong thời Dương Diên Nghệ. Đến năm 960, Nhà Tống ngự trị toàn cơi Trung Hoa, th́ trên bản đồ chỉ c̣n lại đát của phái Lạc Việt, tức là nước Việt Nam mà thôi.

Ngày nay các nhà khoa học về Bác Cổ và Tân Nhân Văn nhận định rằng Việt Nam là nơi kư thác và cũng là dân tộc thừa kế nền văn hóa của Đại Tộc Bách Việt. Một nền văn hóa cao, không đâu xa xôi mà ở ngay trong tiềm thức, trong tập tục, trong tiếng nói, trong tư tưởng của con người Việt Nam bây giờ.

Giáo sĩ Cadière và bác học Paul Mus nói: "Dân Tộc Việt Nam có một nền triết lư siêu h́nh cùng cực vi v́ nó đă khảm vào đời sống của họ rồi." Giáo sư Kim Định, một triết gia giỏi hiện nay, đă minh khải Chủ Thuyết Nhân Chủ được đúc sẵn trong nền văn hóa nói trên, phát xuất từ tổ tiên Bách Việt, căn cứ vào Cổ Sử , Bác Cổ và Tân Nhân Văn. Trong số hàng ngàn đồ cổ t́m được từ cuối thế kỷ 19 sang giữa thế kỷ 20 tại vùng Đông Nam Á, có 165 chiếc đồng cổ đă làm các học gỉa Âu-Mỹ phải ngạc nhiên v́ sự tiến hóa của dân Việt Nam từ thời thượng cổ, và Việt Nam đă có một nền văn hóa siêu tuyệt trong thời khuyết sử.

Trong 165 trống đồng th́ trên 100 chiếc t́m được tại Việt Nam, nước Tàu đứng hàng nh́ với 30 chiếc, Thái Lan và Indonesia dộ 10 chiếc, Lào 4 chiếc, và Phi Luât Tân 1 chiếc; các nưóc Nhật Bản và Đại Hàn cho đến 1975 chưa t́m thấy chiếc nào.

Tại Việt Nam, trống đồng và các cổ vật t́m được tại các vùng: Sông Đà (Ḥa B́nh), Ngọc Lũ (Hà Nam), Phùng Nguyên (Phú Thọ), Đào Thịnh (Yên Bái), Hoàng Hà (Hà Đông), Đông Hiếu (Nghe An), Đông Sơn, Quảng Xương, Nông Cốn và Núi Nưa (Thanh Hóa), Bắc Sơn (Lạng Sơn), Mun, Văn Điển, v.v.. Ước lượng theo khoa học ngày nay, trống mới nhất khoảng hai thế kỷ sau Công Nguyên; chiếc cổ nhất khoảng 30 thế kỷ trước Công Nguyên.

Nhiều trống đ̣ng cổ Viet Nam đượcgiữ tại các bảo tàng viện ở Pháp, Đức Mỹ... — Viện Quốc Gia Bảo tàng Hà Nội, xưa là Viễn Đông Bác Cổ, hiện nay c̣n 3 cái vào loại rất thời danh, lấy tên ba chỗ t́m được: Hoàng Hà, Đông Hiếu, và Ngọc Lũ.

Chiếc trống đồng Ngọc Lũ là chiếc quư nhất được xem như là tiêu buểu cho tất cả các trống đồng và là bản kết tinh của nền văn hóa siêu tuyệt của Đại Việt Tộc, và cũng là của riêng văn hóa Việt Nam nữa.

Triết gia Kim Định đă phân tích, dẫn giảng tỉ mỉ các h́nh chạm trổ trên trống đồng Ngọc Lũ; mỗi một chi tiết nơi trống đồng gắn liền với huyền sử, cổ sử, nêu rơ nguyên lư Chủ Thuyết Nhân Chủ đă có từ thời khuyết sử mà hiện c̣n nhiều chứng tích. Chủ Thuyết đó thể hiện ở nơi phong tục, ngôn ngữ, tư tưởng và tiềm thức con người Việt Nam thời nay.

Minh khải của triết gia Kim Định đem lại niềm tin mới cho dân Việt Nam, đồng thời cũng làm cho học gỉa Đông Tây ngạc nhiên và t́m hiểu. Ai ngờ được một nền văn hóa đă bị chôn vùi v́ sự đô hộ hoặc v́ ảnh hưởng quyền uy của Tàu suốt mấy ngàn năm, th́ nay lại sáng chói lên nhờ ở công tŕnh t́m bới chứng tích ngay trong sử sách và văn hóa Tàu (vào giữa thế kỷ 19, vua Tự Đức c̣n phải nhờ sứ Tàu về phong vương). Nền gốc xa xưa mà người Tàu nh́n là của họ, th́ nay bật ra là của Đại Tộc Việt mà Việt Nam là đích tôn đă thừa kế, dầu vô ư thức, cho đến ngày nay. Thật là vẻ vang cho dân tộc Việt Nam.

Trạng nguyên Hồ Hưng Dật sống cách đây 1000 năm; chắc chắn là ông am tường văn hóa Việt Tộc. Và phải chăng nhờ đọc và hiêu cuốn sách "không có chữ" cổ nhất thế gian là Kinh Dịch xuất phát từ chủng tôc Việt, mà biết thời thế; cho nên đă dem quyến thuộc hồi cư về Lạc Việt, là nhóm duy nhất của Bách Việt c̣n sống sót không bị đồng hóa vậy.

Ông đă hồi cư rấtđúng lúc để phục vụ dân tộc. Hai thành qủa chói chang, rực rỡ, ông để lại cho hậu thế là:

Nền độc lập nước nhà: Ông giúp hai triều NGÔ-ĐINH chiếm lại nền tự chủ từ tay người Tàu, và dẹp yên nội loạn.

Muôn vàn cháu chắt được vẻ vang làm dân tộc Việt Nam, một nước dám tự hào về nỗ lực sinh tồn và nền văn hiến cao độ.

Ông là anh hùng cứu quốc của Việt Nam, dầu vô danh trong quốc sử, nhưng đă có Hồ Qúy Ly, QuangTrung... là cháu chắt đại diện tiêu biểu (3).

Như đă nêu trong phần 1.1, thực tế sự xuất hiện các ḍng họ Việt Nam hiện nay có thể sau thời kỳ Bà Trưng - Bà Triệu.

Cũng như ḍng họ Lư - thời Tiền Lư của ông Lư Bí (Lư Bôn) - một số ḍng họ lớn khác ở Việt Nam cũng đều có xuất xứ từ Nam Trung Quốc (Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, ...) trong đó đại bộ phận ḍng giống Bách Việt, không chịu Hán-hóa di cư sang.

Họ là những quan lại, hoặc các sĩ phu bất phùng thời. Đén đất Lạc Việt, điều kiện thổ nhương thuận lợi, phong cảnh đẹp đẽ, khí hậu ấm áp, họ đă vui ḷng định cư ở lại. Phần đông trong số họ đă tổ chức hôn nhân với các phụ nữ Việt ở địa phương, và vẫn theo mẹ là chính. Trường hợp Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đé), Lư Công Uẩn, Mạc Đĩnh Chi đều không biết bố là ai là như vậy.

Các ḍng họ này sang Việt Nam vào thời kỳ Nhà Hán, đầu thời kỳ Nhà Đường (600-900), thí dụ như:

Họ Lư: Lư Bí (Lư Bôn) tức vua Lư Nam Đế (544-548). Tổ tiên Lư Bí sang Việt Nam từ thời Tây Hán, khoảng đàu Công Nguyên, ở Long Hưng, xă Từ Đường, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái B́nh.

Họ Đỗ: Đỗ Cảnh Thạc, gốc Quảng lăng, Quảng Châu, sang Việt Nam thời kỳ Thập Nhị Sứ Quân, lập nghiệp ở Quảng Oai, Hà Tây.

Họ Hồ: Hồ Hưng Dật, thủy tổ họ Hồ ở Việt Nam, đậu trạng nguyên đời vua Hán Ản Đế, sinh quán huyện Vũ Tân, tỉnh Triết Giang, được cử sang Việt Nam làm Thái Thú Diễn Châu thời Hậu Hán. Cháu 16 đời của Hồ Hưng Dật là Hồ Qúy Ly (vua nhà Hồ); cháu 28 đời là vua Quang Trung Nguyễn Huệ (Hồ Thơm).

Theo Việt Nam Cương Giám Mục, họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn, một ông vua thời thượng cổ Trung Quốc, tương đương các thời vua Hùng ở Việt Nam. Ngu Thuấn được vua Đường Nghiêu truyền ngôi. Đường Nghiêu thuộc ḍng Hán tộc ở phía Bắc Trung Quốc. Ngu Thuấn thuộc ḍng Bách Việt ở phía nam rung Quốc.

Con Ngu Yên (ḍng dơi Ngu Thuấn) gọi là Hồ Công, sau dùng chữ Hồ làm họ; nên Hồ Qúy Ly (vua Hồ ở Việt Nam) mới đặt quốc hiệu là Đại Ngu.

Ḍng Bách Việt ở Trung Quốc bị Hán-hóa, c̣n ḍng Lạc Việt duy nhất không bị Hán-hóa.

Họ Hồ sang Việt Nam chủ yếu sống ở vùng Nghĩa Đàn, Qúy Châu, thỉnh Nghệ An (4).

Họ Nguyễn: Nguyễn Phu, thủy tổ Nguyễn Bác, Nguyễn Trăi, Nguyễn Kim, ..., là Thứ sử Giao Châu

thời Đông Tấn (317-319), sau đó ở lại Việt Nam lập nghiệp ở Thanh Hóa. Nguyễn Siêu, một trong 12 sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh, quê ở Đà Dương, Phúc Kiến, Trung Quốc; tổ tiên sang Việt Nam từ đời nhà Đường.

Họ Trần: Trần Đức - cha Trần Lăm, một trong 12 sứ quân thời Đinh Bộ Lĩnh - gốc quê ở Quế Lâm, Quảng Đông, Trung Quốc, sang Viẹt Nam từ thời nhà Đường.

1.3 Thống Kê Các Ḍng Họ ở Việt Nam

Hiện nay chưa có số liệu thống kê chính xác các ḍng họ ở Việt Nam. Theo tài liệu của người Pháp -Pierre Gourou (1930) - th́ ở Việt Nam có 202 ḍng họ (5). Dă Lan Nguyễn Đức Dụ trong cuốn Gia Phả - Khảo Luận và Thực Hành (1932) ước tính khoảng gần 300 họ. Gần đây, theo số liệu đang kư ở Hội các ḍng họ Việt Nam thuộc tổ chức UNESCO - Việt Nam, và thống kê sơ bộ ỏ các địa phương th́ ḍng họ ở Việt Nam cho đến nay chúng tôi chỉ mới biết được 209 ḍng họ.

Số liệu này có thể chưa chính xác. Tuy nhiên, cũng có thể sơ bộ nhận định rằng, sai số chủ yếu là số lượng các ḍng họ thuộc các dân tộc thiểu số, do điều kiện địa lư và hoàn cảnh xă hội chưa có thể thống kê hết. C̣n số lượng các ḍng họ của dân tộc Kinh ở Việt Nam cũng chỉ trên dưới 180 ḍng họ.

Trong lịch sử Việt Nam, do các điều kiện khác nhau, có nhiều ḍng họ phải thay đổi tên của ḍng họ ḿnh. Tuy nhiên sự thay đổi này chỉ xảy ra ở các Chi, Nhánh của ḍng họ đó, chứ không phải toàn thể ḍng họ đó ( Chi, Nhánh các ḍng họ Tôn Thất đă mất quyền thống trị; Chi, Nhánh các ḍng họ bị nhà đương quyền khép án "tru di tam tộc", v.v.). Nhưng hầu hết sự thay đổi đó đều là chuyển tên ḍng họ ḿnh sang một ḍng họ khác đă có trên đát nước. Rất khó có trường hợp tách hẳn thành một ḍng họ mới (v́ như vậy sẽ tạo nên một sự nghi ngờ của các quan chức địa phương đương quyền...). Và như vậy, trong thực tế, chỉ làm tăng giảm số người trong từng ḍng họ, c̣n số lượng ḍng họ đă có không thay đổi.

So sánh với các số lượng của các ḍng họ ở các nước trên thế giới, số lượng các ḍng họ ở Việt Nam không nhiều. Theo tài liệu nghiên cứu của Giáo sư Phan Văn Các (Viện Hán Nôm) th́ ở Trung Quốc hiện nay có 926 ḍng họ, ở Hàn Quốc có 274 họ, nước Anh có 16,000 họ. Nhiều nhất thế giới là Nhật Bản với 100,000 họ.

Dưới đay là bảng thống kê sơ bộ các ḍng họ ở Việt Nam.

 

 

Bảng Thống Kê Sơ Bộ Các Ḍng Họ ở Việt Nam

 

 

01 An 43 Đăng 85 Khương 127 Mùa 169 Thang

02 Anh 44 Đậu 86 Kiều 128 Nghiêm 170 Thành

03 Âu 45 Đèo 87 Kim 129 Ngọ 171 Thẩm

04 Bá 46 Điều 88 Kông 130 Ngọc 172 Thân

05 Bạch 47 Đinh 89 Kuxê 131 Ngọt 173 Thích

06 Bàn 48 Đoái 90 La 132 Ngô 174 Thiều

07 Bành 49 Đoàn 91 Lă 133 Ngụy 175 Thời

08 Bắc 50 Đỗ 92 Lạc 134 Nguyễn 176 Thới

09 Bế 51 Đôn 93 Lai 135 Nhâm 177 Thường

10 Biện 52 Đông 94 Lại 136 Nhĩ 178 Tiết

11 B́nh 53 Đồng 95 Lăng 137 Nhữ 179 Tiếu

12 Bồi 54 Đới 96 Lâm 138 Ninh 180 Tịnh

13 Bùi 55 Đường 97 Lê 139 Nô 181 Toan

14 Ca 56 Giang 98 Lễ 140 Nông 182 Tô

15 Cái 57 Giàng 99 Lều 141 Nùng 183 Tôn

16 Cakha 58 Giáp 100 Liêm 142 Ôn 184 Tống

17 Cao 59 H' 101 Liều 143 Ông 185 Trà

18 Cát 60 Hà 102 Liễu 144 Phạm 186 Trang

19 Cấn 61 Hạ 103 Ḷ 145 Phan 187 Tráng

20 Cận 62 Hàn 104 Lô 146 Phí 188 Trắng

21 Cầu 63 Hán 105 Lỗ 147 Phó 189 Trần

22 Cha 64 Hạng 106 Lù 148 Phục 190 Triệu

23 Chẫu 65 Hân 107 Lũ 149 Phùng 191 Tŕnh

24 Chế 66 Hầu 108 Lục 150 Phương 192 Trịnh

25 Chriêng 67 H'ma 109 Luyến 151 Quách 193 Trứ

26 Chu 68 H'nia 110 Lữ 152 Quan 194 Trương

27 Chung 69 Hoa 111 Lương 153 Quảng 195 Từ

28 Chữ 70 Hoàng 112 Lưu 154 Quân 196 Tưởng

29 Chương 71 Hồ 113 Lư 155 Sang 197 Ung

30 Cồ 72 Hồng 114 Lyly 156 Sâm 198 Úng

31 Cù 73 Hùng 115 Ma 157 Sân 199 Uông

32 Cung 74 Huỳnh 116 Mă 158 Sô 200 Ứng

33 Cư 75 Hứa 117 Mạc 159 Sơn 201 Văn

34 Danh 76 Hương 118 Mạch 160 Sử 202 Vi

35 Diệp 77 Hướng 119 Mai 161 Tạ 203 Viêm

36 Doăn 78 Hữu 120 Mang 162 Tào 204 Việt

37 Du 79 K' 121 Mạnh 163 Tăng 205 Vũ - Vơ

38 Dư 80 Ka 122 Mao 164 Tân 206 Vừ

39 Dương 81 Khiếu 123 Mân 165 Tần 207 Vương

40 Đái 82 Khổng 124 Minh 166 Tấn 208 Y

41 Đàm 83 Khuất 125 Moong 167 Thạch 209 Y Vương

42 Đào 84 Khuê 126 Môn 168 Thái

 

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

(1) Theo dă sủ ở bảo tàng Đền Hùng (Vĩnh Phú) th́ trong 18 đời vua Hùng có 3 vua Hùng( các đời vua thứ 6, thứ 8, thứ 9 ) trị v́ ngắn nhất là 50 năm; bốn đời vua Hùng trị v́ trên 200 năm ( các đời vua thứ 2, thứ 3, thứ 5, thứ 7); riêng đời vua Hùng thứ 4 (Hùng Hoa Vương, tên húy là Bửu Lang) trị v́ lâu nhất, làm vua được 344 năm (?) (2252 - 1918 TCN).

(2) Theo các tác gỉa cổ sử đây là tên Việt Nam sau tên Giao Chỉ. Theo Nguyễn Trăi (Địa Dư Chí) lại có nghĩa là vùng từ Quảng Trị đến Quảng Nam.

(3) Theo sử gia Phạm Văn Sơn (Việt Nam Toàn Thư) và triết gia Kim Định (Ngũ Điển Khải Triết).

(4) Hồ Qúy Ly tự xưng ḍng dơi nhà Ngu không phải là vô căn cứ v́:

Vua Nghiêu thuộc Đào Dương Thị, theo Kinh Thư của Đức Khổng Tử, là thủy tổ người Tàu. Chữ Đào người Tàu đọc là Tào, người Việt đọc là Tàu

Vua Thuấn thuộc Hữu Ngu Thi, tiêu biểu ở chữ Hiếu, Nhạc Thiều và Nông-nghiệp; nên các nhà cổ sử và huyền sử học nhận diện là thuộc Viêm Việt. Viêm Việt là tiền thân của Bách Việt, rồi xuống Lạc Việt và Việt Nam

Hồ Qúy Ly được các sử gia khen là học giả uyên bác, lại là nhà phê b́nh triết đầu tiên ở Việt Nam (v́ đă soạn Kinh Minh Đạo); vậy khi xưng dân Lạc Việt là ḍng dơi nhà Ngu để đặt tên nước là Đại Ngu, ông đă tỏ ra rất am hiểu cổ sử, và đây cũng là thái độ tiêu cực chống Tàu, v́ Tàu do Nghiêu Đé trị v́.

Các tên Tam Hoàng, Ngũ Đé (gồm Đế Nghiêu, Đế Thuấn,...) đều là tên Huyền sử để chỉ các đợt tiến hóa trong thời khuyết sử chứ không phải tên thật. cũng như huyền số 100 trong truyện trăm trứng của bà Âu Cơ và 100 người con trai để chỉ Bách Việt dưới quyền cai trị của họ Hùng từ vùng duyên hải đến vùng núi khi xưa, và 18 đời Hùng Vương để chỉ số nhiều ... nhiều lắm. Theo triết gia Kim Định (Ngũ Kinh Khải Triết).

(5) Theo P. Gourou trong tài liệu Les noms de famille chez les Annamites du Delta Tonkinois, được in lại trong

Les Paysans du Delta Tonkinois - ParisBEFEO, 1932, tr. 481-495.

 

 

Trích trong sách "Đặng Vũ Phả kư" của Đặng Phương Nghi

Home | Lời Nói Đầu | SựNghiệp CụTổ VũHồn | English | Thăm Gốc Tổ Mộ-Trạch | Nhất Gia | PhầnNhất-I | PhầnNhất-II | PhầnNhất-III | PhầnNhất-IV | PhầnNhất-V | PhầnNhất-VI | PhầnNhất-VII | Trích VũCaoĐàm | VũVănLư | VũTôngPhan | Tin Tổ-Đường Phương Nam | Làng TiếnSĩ | Họ Vũ trước CN | Đặng Vũ Phả Kư | Kịch Vũ Như Tô | ĐáiNhân-NinhB́nh | ThảoLuận- VũHồn

This site was last updated 01/14/06